Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018

Kể chuyện Thăng Long - Hà Nội (P.4)

 Kể chuyện Thăng Long - Hà Nội

Tác giả Chitto - phuot.vn

Thánh Chúa và Thánh Đức
Chuyện cầu con của Lý Thánh Tông còn liên quan đến hai ngôi chùa trên đất Hà Nội (nhưng là ngoại thành Thăng Long).

Khi có Ỷ Lan rồi, Lý Thánh Tông vẫn chưa có con, thường đi cầu tự ở ngôi chùa phía Tây thành Thăng Long. Khi không đến được thì vua sai nội thị là Nguyễn Bông thường xuyên đến đó khẩn cầu. Truyền thuyết kể rằng có pháp sư là Đại Điên bảo với Bông là có thể làm thuật để Bông thoát xác đầu thai làm con vua. Việc bị lộ, Nguyễn Bông bị chém đầu ở ngoài cổng chùa, còn Đại Điên thì không thấy nói đến nữa, nhưng lại xuất hiện trong truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh sau này.


Đến khi Ỷ Lan sinh được con trai, vua mừng rỡ sai đổi tên chùa thành Thánh Chúa, dọc đường từ chùa Thánh Chúa về hoàng thành lại cho dựng chùa Thánh Đức, ngụ ý mong cho con mình sẽ thành vị vua tài giỏi và đức độ. Điều mong ước đó trở thành hiện thực, thái tử Càn Đức sau này là vua Lý Nhân Tông là vị vua trị vì lâu nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, là vị vua tài giỏi anh minh bậc nhất.

Ngày nay chùa Thánh Chúa nằm lọt trong khuôn viên trường ĐH Sư Phạm. Còn chùa Thánh Đức thì chính là chùa Hà nổi tiếng về cầu duyên, nằm cuối phố Chùa Hà.


Cổng chùa Thánh Chúa


Và chùa Thánh Đức (chùa Hà)

(Có truyền thuyết khác nữa về chùa Hà, nhưng riêng tôi thấy truyền thuyết này hợp lý, lại cũng thật hay)


Thập tam trại

Lý Nhân Tông nối ngôi, là vị vua trị vì lâu nhất trong lịch sử Việt Nam, 56 năm.


Thời đầu, Thái hậu Ỷ Lan cùng Thái uý Lý Thường Kiệt nắm quyền, Đại Việt hùng mạnh đã mang quân sang đánh nhà Tống, phá Ung Châu, Khâm Châu, làm cỏ cả thành Ung Châu. Quân Tống sang đánh nhưng bị chặn lại tại Như Nguyệt rồi rút về. Thăng Long không hề bị thương tổn nào. Đền thờ Lý Thường Kiệt được lập ở phía nam Thăng Long. Về Văn, đời Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám là trường học quốc gia đầu tiên.


Có truyền thuyết rằng con gái Lý Nhân Tông đi thuyền trên sông Đuống, bị chết đuối. Có người làng L
ệ Mật vớt được xác, Lý Nhân Tông ban thưởng bằng cách cho người dân Lệ Mật vào lập 13 trại tại phía Tây của Thăng Long, khi đó còn ít người sinh sống, chỉ có một số quan, lính. Từ đó hình thành nên tên gọi Thập tam trại.

Thập tam trại chính xác gồm những nơi nào không rõ, ngày nay về lễ đình Lệ Mật thì gồm các nơi: Vĩnh Phúc, Liễu Giai, Cống Vị, Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Kim Mã, Xuân Biểu, Thủ Lệ, Vạn Phúc, Ngọc Khánh, Đại Yên, Giảng Võ, Cống Yên.


Đình Lệ Mật, nơi thờ thành hoàng làng, cũng là người có công lập ra Thập tam trại.



Lý Thường Kiệt

Một trong những người Thăng Long nổi tiếng nhất là Lý Th
ường Kiệt, vị tướng giỏi nhất triều Lý. Ông tên thật là Ngô Tuấn, quê ngay tại khu vực phía Nam thành Thăng Long. Khi Lý Thái Tổ dời đô thì một phần làng quê ông thuộc về kinh thành.

Sinh ra dưới thời Lý Thái Tông, ông là nội thị (hoạn quan) của Lý Thái Tông, nhưng do có tài nên đến thời Lý Thánh Tông thì được nắm giữ quân đội. Sang đến triều Lý Nhân Tông, ông được phong Thái Uý, đứng đầu hàng Võ, thống lĩnh toàn bộ quân đội. Ông liên kết với Thái hậu Ỷ Lan, đã thắng phe của Thái hậu Thượng Dương và Thái sư Lý Đạo Thành năm 1069.


Cùng Thái hậu Ỷ Lan nắm quyền, trước tin nhà Tống định đánh chiếm Đại Việt, ông quyết định chủ động đánh trước. Và trận đánh năm 1075 đó là lần duy nhất người Việt chính thức đánh Trung Quốc, phá tan Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu, làm cỏ thành Ung Châu (Nam Ninh ngày nay) giết 58 nghìn người trong thành đó. Tổng cộng giết quân và dân Hán gần 100 nghìn, rồi rút về nước.


Nhà Tống đem quân sang báo thù, ông lập phòng tuyến Nh
ư Nguyệt, giằng co, cuối cùng quân Tống phải rút về. Tại phòng tuyến này đã vang lên bài thơ bất hủ:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Ti
ệt nhiên định phận tại thiên thư
Nh
ư hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nh
ữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Lý Thường Kiệt từ họ Ngô được ban họ Lý, gia phong rất nhiều tước, có thể nói là thuộc loại bậc nhất trong các quan lại triều Lý: Th
ượng trụ quốc, Phụ Quốc Thái phó Thượng tướng quân, tước Khai Quốc công.
(Tước từ cao xuống thấp có Công - Hầu - Bá - Tử - Nam, hoàng tử thời Lý Thánh Tông cũng chỉ phong tước Hầu, mà ông tước Công, thì còn cao hơn).


Ông mất khi 87 tuổi, được truy phong Vi
ệt Quốc Công, là tước Quốc Công cao nhất có thể có.

Đền thờ Lý Thường Kiệt được lập tại quê nhà ông là làng An Xá, sau là Cơ Xá, nay thuộc khu vực gần viện Pasteur. Đền gọi là đền Cơ Xá, nằm đầu phố Nguyễn Huy Tự

Tương truyền khi mất Lý Thường Kiệt được chôn ngay trong thành Thăng Long, khu vực đất làng Nam Đồng ngày nay, nơi đó nay là đình Nam Đồng, trên phố Nguyễn Lương Bằng.

Ngoài ra còn đình Phúc Xá, đền Tiên Thiên cũng thờ Lý Thường Kiệt.


Lăng Phùng Hưng

Nhân nói đến phần mộ Lý Thường Kiệt được cho rằng nằm trong khu vực đất đình Nam Đồng, không thể bỏ qua một lăng mộ khác cũng nằm giữa Thăng Long, là mộ của B
ố Cái Đại vương Phùng Hưng.

Phùng Hưng người làng 
Đường Lâm, mảnh đất sau này còn có vua Ngô Quyền. Nổi dậy chống lại nhà Đường đô hộ trong khoảng 766 - 790, ông đã có nhiều thành công, vây được quân nhà Đường đóng ở huyện Tống Bình (khu vực Thăng Long sau này), đuổi được quân Đường sang bên kia sông. Sự nghiệp chưa thành thì Phùng Hưng qua đời năm 791, khi mới ngoài 40 tuổi.

Đến nay, có một lăng mộ được nhân dân ngàn năm tôn thờ là mộ của Phùng Hưng, nằm ngay giữa thành Thăng Long. Thực tế là có thể chỉ là lăng thờ tượng trưng, vì sau khi Phùng Hưng mất, quân Đường chiếm lại đất Tống Bình, mà sự trả thù của người Tàu đều không đơn giản, liệu mộ Phùng Hưng nếu chôn ở đây có thể nguyên vẹn được không?

Ngày nay, lăng Phùng Hưng nằm ngay phía sau bến xe Kim Mã, đường vào trên đoạn cuối của phố Giảng Võ.


Quốc Tử Giám

Về Võ, chíến dịch đánh Tống và chống Tống thể hiện sức mạnh triều Lý. Về Văn, triều Lý Nhân Tông được đánh dấu bởi việc mở Qu
ốc Tử Giám, trường học Quốc gia đầu tiên. Có một điều thú vị là thời Thánh Tông, năm 1069 đánh thắng Chiêm Thành liền sau đó, năm 1070 lập Văn Miếu; thời Nhân Tông, năm 1075 đánh thắng Tống thì liền sau đó năm 1076 lập Quốc Tử Giám.

Lịch sử ghi công này cho Lý Nhân Tông, nhưng thực ra khi đó vua mới chỉ có 11 tuổi, nào đã biết gì về Võ hay Văn, mà đó là công của Thái hậu nhiếp chính 
Ỷ Lan, và thái sư Lý Đạo Thành. Trước kia Lý Đạo Thành theo phe Thượng Dương, bị dời vào trấn thủ Nghệ An, nhưng Thái hậu Ỷ Lan bỏ qua chuyện cũ, lại mời ông ra làm Thái sư như cũ. Có thể cho rằng chính ông là người đã hậu thuẫn cho việc mở trường Đại học đầu tiên của Việt Nam.

Triều đại mà Võ thì có Lý Thường Kiệt, Văn thì có Lý Đạo Thành, lại có bà Thái hậu uyên bác quyết đoán, thì dù là vua bé vẫn cứ hưng thịnh, và Thăng Long ngày càng được xây dựng hoàn thiện, to đẹp.


Dâm Đàm

Triều Lý Nhân Tông có vụ án nổi tiếng liên quan đến hồ Tây, tức là v
ụ án Dâm Đàm.

Ngay từ khi định đô trên đất này, h
ồ Tây đã là một phần không thể tách rời của thành Thăng Long. Tên hồ đời Lý là Dâm Đàm, tức là đầm mù sương. Ngày nay mỗi ngày có sương, thì cảnh sắc hồ Tây cũng vẫn rất huyền ảo. Hồ lại có tên là đầm Xác cáo, do truyền thuyết xưa đây là nơi Hồ ly tinh đào hang sống, Lạc Long Quân đã giết cáo tinh rồi vứt xác ở đây. Lại còn gọi là hồ Kim Ngưu - Trâu Vàng, theo truyền thuyết Khổng lồ đúc chuông (sẽ nói sau). Đến đời Lê mới gọi là Tây hồ, có lẽ để đối ứng với tên gọi Đông Đô chăng, vì hồ đâu có nằm ở phía Tây của Thăng Long, mà ở phía Bắc.

Với Thăng Long, hồ Tây là thắng cảnh đệ nhất. Nếu sông Cái - Nhĩ Hà là con đường giao thông, lưu thương buôn bán, là cái hào tự nhiên vĩ đại ngăn giặc Bắc, thì hồ Tây là nơi thưởng ngoạn tuyệt vời. Vì thế tại hòn đảo Kim Ng
ư (Cá vàng) giữa hồ, nhà Lý cho dựng cung Thuý Hoa, bờ bắc còn làm cung Từ Hoa, là nơi vui chơi nghỉ ngơi của các vua Lý. Lúc này con đê chia đôi hồ chưa có, nên đảo Kim Ngư chơi vơi giữa mênh mông sóng nước, bình minh hay hoàng hôn đều rực rỡ cả, chắc hẳn là rất đẹp.

Tại Dâm Đàm, từ đời Lý đã có các địa danh Hồ Khẩu (cửa sông Tô Lịch nối với hồ), Giang Tân (bến sông), Lãng Bạc (bến sóng), Trích Sài (hái củi), Võng Thị (chợ bán lưới)... rồi Nghi Tàm, Nhật Tân,..., những cái tên còn đến ngày hôm nay. Vua chúa từ thời đó đã thường thích đi thuyền trên hồ ngắm cảnh, xem dân gian buôn bán, đánh cá.


Và cũng từ một lần vua đi xem đánh cá mà có vụ án Dâm Đàm.


Lê Văn Thịnh

Năm 1075, vua Lý Nhân Tông (thực ra là Thái hậu Ỷ Lan) mở khoa thi đầu tiên của nước Việt, Lê V
ăn Thịnh đỗ đầu, thời ấy chưa gọi là Trạng Nguyên, nhưng có thể coi ông là Trạng Nguyên đầu tiên của nước ta. Ông khi đó 37 tuổi, được vào cung dạy dỗ cho ông vua bé 11 tuổi.

Mười năm sau, 1085, ông đi sứ Trung Quốc, bằng tài ngoại giao của mình đã lấy lại được tất cả phần đất mà nhà Tống chiếm chưa chịu trả, nên khi về triều được phong Thái s
ư, vừa là thầy học của vua, vừa là vị quan đầu triều.

Sử chép năm 1096, vua Lý Nhân Tông (30 tuổi) đi chơi Dâm Đàm xem dân đánh cá, Thái sư khi đó 58 tuổi, đi theo hầu. Bỗng sương mù bao phủ, trong thuyền bỗng xuất hiện con hổ định vồ vua. Người đánh cá là Mục Thận vội quăng lưới lên con hổ, vua cũng lấy giáo đâm. Sương tan thì thấy trong lưới chính là Thái sư Lê Văn Thịnh. Ông bị kết tội hoá h
ổ để giết vua, bị đày đi Thao Giang đến chết.

Chuyện này là vụ án chính trị, có lẽ vì những bất đồng của Thái sư già và vua trẻ, và có thể cả thế lực khác nữa, nên mới đặt ra chuyện huyễn hoặc này. Chứ theo luật của mọi triều đại, thì giết vua là chắc chắn phải chết, không có chuyện chỉ bị đi đày.


Nỗi oan của Lê Văn Thịnh được người dân đời sau thấu hiểu, nên lập đền thờ ông tại quê, và tạc hình con rồng đá cắn vào thân, chân cào vào bụng đầy uất ức.


Còn ông Mục Thận "có công cứu vua" là người làng Võng Thị, cũng được lập đền thờ, và là thành hoàng làng. Ngày nay đình Võng Thị thờ ông này.


Cổng chùa Võng Thị, ngay sát với đình Võng Thị (đình này thì tu sửa mới toe rồi)

( còn tiếp )
_______________
Nguồn: Chitto - phuot.vn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Video Chương trình ĐỐI DIỆN 29/7/2026: Bảo vệ lịch sử trước tư tưởng sai lệch

    Lịch sử luôn có giá trị trường tồn, mọi nỗ lực nhào nặn hay bóp méo quá khứ có thể thu hút dư luận trong chốc lát, nhưng chắc chắn khôn...

Popular Posts