Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2022

TÌM HIỂU NHANH VỀ TRIẾT LÝ BÁNH DÀY, BÁNH CHƯNG


Khi nói về Vũ trụ không chỉ nói về vật chất mà còn phải nói đến Tánh Linh. Từ Vũ trụ trong tiếng Việt được vay mượn từ tiếng Hán 宇宙. Vũ (宇) trong vũ trụ (宇宙) có nghĩa là không gian, còn trụ (宙) có nghĩa là thời gian. Vũ trụ nghĩa mặt chữ là không gian và thời gian. Không gian là thuộc tính của vật chất. Thời gian là thuộc tính của Tánh linh. Vũ trụ bao gồm vật chất và Tánh linh.
 
 
 
 
1. Sự tích
"Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu"
(Bình Ngô Đại Cáo).
Với hơn 2622 năm từ thời lập quốc, dưới sự trị vì của các Vua Hùng, tộc Việt đã tạo dựng nên một nền văn hóa với danh xưng văn hiến. Tộc Việt, một dân tộc duy nhất trong lịch sử nhân loại, sử dụng thực phẩm làm biểu tượng văn hóa của mình còn lưu truyền đến ngày nay. Đó chính là cặp bánh dày, bánh chưng.
Trước khi tìm hiểu hai di sản thiêng liêng và huyền vĩ, trong văn hóa truyền thống của tộc Việt là cặp bánh dày, bánh chưng, chúng ta hãy đọc trong Lĩnh Nam Chích Quái:
"Vua Hùng sau khi phá xong giặc Ân rồi, trong nước thái bình, nên lo việc truyền ngôi cho con, mới hội họp hai mươi hai vị quan lang công tử lại mà bảo rằng: “Đứa nào làm vừa lòng ta, cuối năm đem trân cam mỹ vị đến dâng cúng Tiên Vương cho tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho”.
Các công tử đua nhau đi tìm các vị trân kỳ, hoặc săn bắn, chài lưới, hoặc đổi chác, đều là của ngon vật lạ, nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Duy có công tử thứ mười tám tên là Lang Liêu, mẹ hàn vi, đã bị bệnh qua đời rồi, trong nhà lại ít người nên khó bề toan tính, ngày đêm lo lắng, ăn ngủ không yên. Chợt nằm mơ thấy thần nhân bảo rằng: “Trong trời đất không có vật gì quý bằng gạo, vì gạo là vật để nuôi dân khỏe mạnh, ăn mãi không chán, không có vật gì hơn được. Nếu giã gạo nếp gói thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, hoặc lấy lá gói thành hình vuông để tượng trưng cho Đất, ở trong làm nhân ngon, bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý công ơn dưỡng dục của cha mẹ, như thế thì lòng cha sẽ vui, nhà ngươi chắc được ngôi quý”.
Lang Liêu giật mình tỉnh dậy, vui mừng nghĩ rằng “Thần minh giúp ta, ta nên bắt chước theo mà làm”. Lang Liêu bèn lựa nếp hạt trắng tinh, không sứt mẻ, đem vo cho sạch, rồi lấy lá xanh gói thành hình vuông, bỏ nhân ngon vào giữa, đem nấu chín tượng trưng cho Đất, gọi là bánh chưng. Lại lấy nếp nấu xôi đem quết cho nhuyễn, nhào thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, gọi là bánh dày.
Đúng kỳ hẹn, Vua hội họp các con lại trưng bày phẩm vật. Các con đem dâng không thiếu thứ gì, duy chỉ có Lang Liêu đem bánh hình tròn, bánh hình vuông đến dâng. Hùng Vương lấy làm lạ hỏi Lang Liêu, Lang Liêu trình bày như lời thần nhân đã bảo. Vua nếm thử thì thấy vị ngon vừa miệng ăn không chán, phẩm vật của các công tử khác không làm sao hơn được. Vua khen ngợi hồi lâu, rồi cho Lang Liêu được giải nhất. Vua dùng thứ bánh ấy để cung phụng cha mẹ trong các dịp lễ tết cuối năm. Thiên hạ mọi người đều bắt chước theo. Tục này còn truyền cho đến bây giờ. Lấy tên là bánh Lang Liêu và gọi là Tiết Liệu (節料) [hết trích].
(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
2. Ý nghĩa
Bánh dày hình tròn (hình 1) không có góc cạnh, hình khối cụ thể, không có nhân, trùm khắp Vũ trụ thuộc Dương, tượng trưng cho thời gian, cho Trời (Thiên), cho Tánh linh (Chân Tâm). Trong ngôn ngữ Việt có từ Thiên Hạ. Thiên Hạ là Chân Tâm từ Trời hạ xuống trần gian.
Bánh chưng hình vuông (hình 2), có góc cạnh, hình khối cụ thể, có không gian (bốn phương), có tâm (nhân), thuộc Âm, tượng trưng cho đất, cho vật chất.
Cấu trúc chiếc Bánh Chưng gồm: (1) Thịt lợn hồng (đỏ) ở giữa, (2) đậu xanh (vàng) bọc ngoài, (3) Gạo Nếp trắng, (4) luộc bánh (dụng Thủy), tạo một màu xanh lục bên ngoài, (5) Lá dong bọc bên ngoài bánh.
Trên cơ sở thành phần của bánh chưng, đối chiếu với nguyên lý Ngũ Hành tương sinh (hình 3) như sau:
1. Thịt heo - thịt nạc màu hồng (đỏ), thuộc Hỏa.
2. Hỏa sinh Thổ, Vàng - đậu xanh.
3. Thổ sinh Kim, Gạo nếp Trắng.
4. Kim sinh Thủy, Diệp lục tố (hình thành khi luộc bánh) - tức màu xanh bên ngoài bánh chưng.
5. Thủy sinh Mộc, Lá dong bọc bên ngoài bánh.
Đây là chiều Ngũ Hành tương sinh. Ngũ hành tương sinh là sự vận động phát triển của vật chất.
3. Tấm bánh chưng tộc Việt
Tấm bánh chưng tộc Việt phải là 4 sợi Lạc (Lạt) màu Hồng (Con Lạc, cháu Hồng) buộc theo đúng hình Cửu Cung Hà Đồ (hình 4) với nội dung Ngũ Hành Tương sinh: mang lại sự sung túc cho con người và xã hội.
Khi cắt bánh chưng tộc Việt, tổ tiên ta dùng những sợi Lạt (Lạc) cắt làm tám miếng như hình dưới (hình 5): Bốn phương, Tám hướng, mô tả các chiều không gian.
Cặp bánh dày, bánh chưng được lưu truyền từ cuối thời Hùng Vương Thứ VI cách nay đã 3500 năm nhưng còn lưu giữ đến giờ, cho thấy sự thiêng liêng và huyền vĩ của linh vật này.
Do không hiểu bản chất nội hàm của cặp bánh dày, bánh chưng người ta đã tự chế ra nhiều loại bánh khác nhau để thỏa mãn cho sự ngon miệng và đẹp mắt, không còn là một biểu tượng huyền vĩ và thiêng liêng của nền văn hiến Việt trong ngày lễ đầu năm.
4. Kết
Có quá nhiều của ngon vật lạ dự cuộc thi vào cuối thời Hùng Vương thứ VI. Nhưng vượt qua tất cả các món ngon vật lạ đó, cặp bánh dày, bánh chưng được chấm giải nhất chính vì nội hàm biểu tượng sự huyền vĩ của nó. Cuộc sống con người đâu chỉ là ăn. Nó còn một sự thiêng liêng khác: Đó chính là trí tuệ và nhận thức về Vũ Trụ trong mối quan hệ tương tác giữa con người và thiên nhiên.
Hoàng Lạc

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2022

HIỂU RÕ CƠ THỂ MÌNH ĐỂ TỰ PHÒNG TRỊ BỆNH TẬT

 HIỂU RÕ CƠ THỂ MÌNH ĐỂ TỰ PHÒNG TRỊ BỆNH TẬT

(Bài hơi dài, chịu khó đọc để biết cách không sợ hãi trước bệnh tật và cẩn trọng khi dùng thuốc)
Vẻ đẹp của trẻ em hòa giữa không gian mênh mông của vùng cao luôn đầy cuốn hút. 
 
1- Bài học đầu tiên tôi học được từ một vị chân y thầy tôi là : Trong số các biểu hiện mà chúng ta cho là bệnh, có tới khoảng 95% là tự khỏi, chỉ có 5% gây biến chứng thực sự trở thành bệnh, trong đó 3% có thể chữa khỏi và 2% “được phép chết”, nghĩa là phải chấp nhận luật đào thải của tự nhiên. Trong số 95% số bệnh tự khỏi đó, có tới khoảng 1/3 sau khi tự khỏi sẽ khỏe mạnh gấp bội do sức đề kháng của cơ thể tự tăng lên. Những bệnh cần phải chữa trị không có nhiều.
Hãy nhìn vào thiên nhiên hoang dã, tất cả thú hoang, chim trời hay sinh vật đều khỏe mạnh, không có con nào phải “chữa bệnh” cả, trong khi con người chúng ta ngày nay ai cũng là khách hàng của các thầy thuốc và các hiệu thuốc.
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều vị chân y ở phương Đông là đại sư Phật giáo, ở nước ta có đại sư Tuệ Tĩnh. Đối với các thầy, thân và tâm không thể tách rời. Chữa thân bệnh không chắc đã khỏi bệnh, phải chữa tâm bệnh mới khỏi bệnh triệt để. Y học cổ truyền thấm đẫm tinh thần Phật pháp. Đức Dược vương Phật chính là vị Phật thầy thuốc. “Tự khỏi”, chính là chữa được tâm bệnh. 
 
2- Tiến sĩ Kary B. Mullis, một nhà khoa học kiệt xuất người Mỹ đoạt Giải Nobel hóa học năm 1993, là cha đẻ của kỹ thuật PCR được áp dụng rộng rãi trong công nghệ sinh học và nhiều lãnh vực khác. Người ta sử dụng kỹ thuật của ông để phát hiện con virus H.I.V, từ đó coi con virus này là nguyên nhân gây bệnh A.I.D.S, rồi công bố đ.ạ.i d.i.c.h H.I.V/A.I.D.S trên toàn cầu. Nhưng Mullis không cho là như vậy. Theo ông thì PCR giúp dễ dàng nhận ra rằng một số người bị nhiễm H.I.V và một số trong những người đó có các triệu chứng của bệnh A.I.D.S, nhưng điều đó không trả lời được câu hỏi, liệu H.I.V có gây ra bệnh AIDS hay không. Ông nói : “Con người chứa đầy retrovirus, chúng tôi không biết có hàng trăm hay hàng nghìn hay hàng trăm nghìn, chúng tôi chỉ mới bắt đầu tìm kiếm chúng gần đây, nhưng chúng chưa từng giết chết ai”. Người ta sử dụng thành tựu khoa học của ông, rồi “cắt cầu”, phớt lờ những phân tích khoa học đầy trách nhiệm của ông, để thu lợi nhuận khổng lồ từ sản xuất thuốc chữa cái gọi là căn bệnh thế kỷ kia.
Gần đây người ta lại dùng kỹ thuật PCR của Mullis để xét nghiệm tìm ra con virus gây ra “đ.ạ.i d.ị.c.h” C.o.v.i.d 1.9 để cung cấp thuốc ngừa đồng loạt cho nhân loại nhằm thu siêu lợi nhuận. Nếu như Mullis còn sống, chắc ông sẽ có thái độ như đối với bệnh H.I.V/A.I.D.S.
Mullis coi trọng các bác sĩ chữa những căn bệnh như nối chân nối tay, chữa các thương tật do chiến tranh, do tai nạn hoặc những căn bệnh mà họ biết rõ nguyên nhân. Ông phản đối những thầy thuốc mà ông gọi là “witch doctors” (bác sĩ phù thủy), những người dùng những thứ độc hại đưa vào cơ thể con người, nhân danh cứu người nhưng thực chất là giết người, như việc dùng xạ trị và thuốc độc để chữa bệnh ung thư. Ông lên án nhóm những người giàu có trong các tập đoàn dược phẩm hiện đại khi họ nói rằng họ có thể bào chế ra các thứ thuốc chữa được những căn bệnh mà họ không biết rõ nguyên nhân và sự thật là họ không thể làm được điều đó. 
 
3- Cuốn sách thuốc cổ xưa nhất của phương Đông, có lẽ cũng là loại cổ xưa nhất của thế giới, là cuốn “Thần Nông bản thảo”, tác giả của nó được cho là vua Thần Nông, là một trong các thủy tổ của Hoa Hạ và cũng là thủy tổ của dân tộc ta, theo Đại Việt sử ký toàn thư. Tương truyền rằng, Thần Nông đi tìm và khảo nghiệm cây thuốc có ngày phải bị 72 lần ngộ độc. Các nhà nghiên cứu cho rằng, đây không phải sách thuốc của một người mà là kết quả của sự khảo nghiệm hàng ngàn năm của các bậc danh y, phát triển thành một hệ thống, sau này hàm chứa trong các cuốn sách chân truyền danh tiếng khác, từ “Đường tân tu bản thảo” (thời nhà Đường) đến “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân (thời Nhà Thanh).
“Bản thảo”, như tên gọi của nó, chủ yếu sử dụng cây cỏ và một số hoạt chất trong tự nhiên, không giết động vật hoang dã làm thuốc. Nếu có dùng động vật thì cũng chỉ lấy những bộ phận của con vật tự loại bỏ (như xác ve, xác rắn) hoặc một số bộ phận lấy từ các con vật đã chết già. Nói khoa học là kết quả của những khảo nghiệm lặp đi lặp lại với nhiều lần “thử sai”, thì các vị thuốc trong những cuốn sách thuốc chân truyền này là khoa học nhất, vì đã thử nghiệm lặp đi lặp lại hàng ngàn năm. Những thảo dược đó không chỉ được ghi thành sách, mà các bậc chân y còn phổ biến chúng trong dân gian, truyền từ đời này qua đời khác.
Dù như vậy, các bậc chân y vô cùng cẩn trọng trong việc dùng thuốc. Vì hiểu rõ cơ thể mỗi người là khác nhau, không có một bài thuốc nào áp dụng chung cho mọi người được, nên các vị chân y không truyền nghề qua sách vở mà chỉ truyền nghề cho những học trò có đủ tư chất và y đức. Bởi vậy những sách thuốc đông y, cả những cuốn được cho là của Hải thượng Lãn ông hay Tuệ Tĩnh của Việt Nam, đều không đáng tin cậy để mang ra chữa bệnh. Ngay cả các cuốn sách thuốc cổ truyền được lưu hành được cho là của Trung Quốc, đâu là chân truyền, đâu là tam sao thất bản cũng rất khó nhận biết.
Nguyên tắc chữa bệnh của y học cổ chân truyền là phải biết đúng nguyên nhân gây bệnh của từng người và đặc điểm cơ thể của người đó (thông qua mạch và biểu hiện của thần sắc), không một thang thuốc nào giống thang thuốc nào, không một bài thuốc nào dành chung cho mọi người dù có cùng một loại bệnh. Ngay cả việc hái thuốc, cây cỏ nào hái vào lúc nào mới có công dụng cũng không ghi thành sách mà là sự truyền thừa của các bậc chân y. Cho nên, người xưa bảo, chỉ những thầy thuốc chân truyền ít nhất ba đời mới đáng tin cậy. 
 
4- Năm 2017, 3 nhà khoa học Mỹ là Jeffrey Hall, Michael Rosbash và Michael Young được tặng giải Nobel y học với những khám phá thú vị về “cơ chế điều khiển nhịp sinh học hàng ngày”. Lần đầu tiên chiếc “đồng hồ sinh học” trong cơ thể con người, động vật và cây cỏ vận hành trong nhịp điệu của vũ trụ được giới hàn lâm khoa học xác nhận. Khám phá này cho thấy những tri thức khoa học đang được thừa nhận về cơ thể con người lâu nay chỉ là tri thức về một cơ thể chết. Nhiều giải pháp khoa học đồng loạt đang được ứng dụng để tác động vào cơ thể con người nhằm chữa bệnh hay cung cấp dinh dưỡng, cũng dựa vào những tri thức về cơ thể chết đó.
Với những khám phá nói trên, ta biết cơ thể con người thay đổi theo nhịp thời gian, biến đổi theo từng sát-na trong 24 giờ của một ngày, ngày hôm nay không giống ngày hôm qua, ngày này của năm này không giống ngày này của năm trước, người Việt không giống người Mỹ, người Việt ở Cà Mau không giống người Việt ở Lạng Sơn, người Việt đang ngồi trên máy bay không giống người Việt đang ngồi ngắm biển.
Vì lẽ đó mà một con virus hay một chất độc thâm nhập vào cơ thể những người khác nhau gây ra những tác hại khác nhau, thâm nhập vào buổi sáng tác hại sẽ rất khác nếu chúng thâm nhập vào buổi chiều. Vì lẽ đó mà cùng một nguyên nhân gây bệnh, người này phải được chữa trị không giống như người khác. Vì lẽ đó, cùng một cây thuốc nếu hái vào mùa hè sẽ có tác dụng khác với hái vào mùa đông, hái vào buổi sáng có tác dụng khác với hái vào buổi trưa. Khám phá của ba nhà khoa học nói trên đã gián tiếp thừa nhận sự đúng đắn của các bậc chân y từ hàng ngàn năm trước
 
5- Nói dài dòng như trên để thấy các bậc chân y và các nhà khoa học chân chính vô cùng cẩn trọng trong việc dùng thuốc chữa bệnh, để thấy các Big Pharma quốc tế đang lợi dụng sự sợ hãi về bệnh tật để trục lợi trên cơ thể con người như thế nào.
Tây y có chữa được bệnh tiểu đường không ? Xin thưa là không, vì nguyên lý của họ là : Ngăn đường và tiêm Insulin nhân tạo vào cơ thể. Insulin là hormone tiết ra từ tuyến tụy, nó có tác dụng chuyển hóa glucose (và lipid, protein) để nuôi sống tế bào. Tây y cho rằng, do lượng đường trong máu cao, nên một mặt phải tiêm insulin để nó chuyển hóa đường trong máu, mặt khác ngăn đường (bất kể loại đường nào) để tránh lượng đường trong máu cao. Chữa như vậy là có hại. Tế bào của cơ thể cần đường, chất béo, đạm và dưỡng khí, không có những thứ đó cơ thể sẽ chết. Tuyến tụy không tiết ra insulin hoặc tiết ra insulin không có chất lượng là do sự bất ổn nhiều nơi trong lục phủ ngũ tạng, tiêm insulin nhân tạo vào cơ thể không những không cải thiện được tuyến tụy mà còn gây hại cho nó vì insulin nhân tạo có độc. Đường mà cơ thể cần là đường tự nhiên (từ nước mía, trái cây, rau củ và tinh bột). Ngăn đường là chỉ ngăn chất ngọt của đường tinh luyện, của nước ngọt và bánh kẹo công nghiệp (insulin không chuyển hóa được đường công nghiệp), còn đường tự nhiên nhất thiết phải nạp đủ để nuôi tế bào, nếu không sẽ khiến cho cơ thể bị suy yếu (những bộ phận cơ thể bị hoại tử do tiểu đường không phải do thừa đường mà chính là do thiếu đường tự nhiên). Cho nên, bệnh tiểu đường không cần chữa, chỉ cần ăn uống các thức ăn tự nhiên, ăn uống nhiều đường tự nhiên, tránh xa đường tinh luyện và thức ăn công nghiệp, chân thường xuyên tiếp đất, cơ thể thường xuyên phơi nắng, hít thở không khí trong lành và giữ tâm bình an, là khỏi bệnh.
Bệnh ung thư Tây y có chữa được không ? Xin thưa là không. Một bác sĩ người Nhật, tiến sĩ Makoto Kondo, người có 40 năm chuyên điều trị bệnh ung thư, đã viết một cuốn sách công bố sự thật về việc chữa ung thư. Ông khuyến cáo rằng bệnh ung thư không nên và không cần phải chữa. Ông nói, ở Nhật mỗi năm có khoảng nửa triệu ngưới chết vì bệnh ung thư, phần lớn không chết vì ung thư mà chết vì chữa ung thư. Ông cho rằng mổ xẻ, hóa trị, xạ trị hoặc đưa chất độc vào cơ thể đều là nguyên nhân chính dẫn đến cái chết. Trong khi nếu không chữa ung thư thì có thể sống lâu hơn, nhiều trường hợp vẫn sống như người bình thường. Ông khuyến nghị không nên “khám sức khỏe tổng quát”, vì nếu phát hiện ung thư sẽ khiến cho ta sợ hãi rồi vội vàng đi điều trị, khiến cho cái chết dến nhanh hơn. Trong những trường hợp bệnh nặng với nhiều biến chứng thì dù có chữa hay không chữa đều chết như nhau. Lời khuyên của ông đối với những người mắc bệnh ung thư là : “Mặc kệ nó, không cần chữa”. Có thuốc ngừa ung thư không ? Makoto Kondo trả lời : “Không. Khối u là các tế bào của cơ thể, hệ miễn dịch chỉ tấn công vào “kẻ lạ” từ ngoài xâm nhập, không tấn công “người nhà”.
Ung thư không phải là bệnh nan y. Một khối u hình thành bản thân nó không phải là bệnh mà là sự báo hiệu sự không thông suốt của cơ thể. Chỉ cần ăn uống hợp lý, tránh xa hóa chất, sống thuận với tự nhiên, yêu đời, vui vẻ với người xung quanh và không sợ hãi, phần lớn bệnh ung thư sẽ tự khỏi. 
 
6- Trên đây là lý do lão nông tôi dù nghiên cứu y thuật 15 năm, vẫn không dám hướng dẫn một “bài thuốc” nào, mà chỉ dám hướng dẫn việc ăn uống hoặc dùng một số cây lá hoa trái để phòng trị một số bệnh tật mà không gây tác dụng phụ.
 
HOÀNG HẢI VÂN

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2022

Phim khoa học - The Universe SS2 - Vũ Trụ Kì 2

Phim khoa học - The Universe SS2 - Vũ Trụ Kì 2

The Universe S02E01. Alien Planets

The Universe S02E02 Cosmic Holes 

The Universe S02E03. Mysteries of the Moon

The Universe S02E04 The Milky Way

The Universe S02E05. Alien Moons

The Universe S02E06. Dark Matter

The Universe S02E07. Astrobiology

The Universe S02E08. Space Travel

The Universe S02E09. Supernovas

The Universe S02E010. Constellations

Phim khoa học - The Universe SS1 - Vũ Trụ Kì 1

 Phim khoa học - The Universe SS1 - Vũ Trụ Kì 1

The Universe S01E01. Secrets of the Sun

The Universe S01E02. Mars_ The Red Planet

The Universe S01E03. The End of the Earth

The Universe S01E04. Jupiter_ The Giant Planet 

The Universe S01E05. The Moon

The Universe S01E06. Spaceship - Earth

The Universe S01E07. Inner planets Mercury and Venus

The Universe S01E08. Saturn_ Lord of the Rings

The Universe S01E09. Alien Galaxies

The Universe S01E10. Life and Death of a Star

The Universe S01E11. The Outer Planets 

The Universe S01E12. Most dangerous places in the Universe

The Universe S01E13. Search for ET

The Universe S01E14. Beyond the Big Bang

Vũ trụ S01E14. Ngoài vụ nổ lớn

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

Quyền Năng Vô Hạn (phụ đề Việt, full) - What the Bleep Do We Know

Quyền Năng Vô Hạn (phụ đề Việt, full) - What the Bleep Do We Know

 

 https://youtu.be/iAUKc7YHxMk

Nhà ngoại cảm, thôi miên và nhà nghiên cứu tâm linh - Dolores Cannon

Nhà ngoại cảm, thôi miên và nhà nghiên cứu tâm linh - Dolores Cannon

 

https://youtube.com/playlist?list=PLt-IESkK3dXc1LwAymH6MSwaFM8cHXnl8&si=x7jNTvwLKfXQd5Oa

Phim Masaru Emoto Cảm xúc của nước

 Phim Masaru Emoto Cảm xúc của nước

 

https://youtu.be/C1MMaHu-cr8?si=XRcZ8Kf8emqEdfXn

Phim Lịch sử nghiên cứu về khả năng ngoại cảm của Quân Đội Mỹ và CIA

Lịch sử nghiên cứu về khả năng ngoại cảm của Quân Đội Mỹ và CIA

 

https://youtu.be/-_5_pzmuqsk

Khoa học và tâm linh - vật lý lượng tử - Alan Wolf

 Khoa học và tâm linh - vật lý lượng tử - Alan Wolf


Bộ tộc Kogi - Hậu Nhân của Atlantis gửi thông điệp cho người em

Bộ tộc Kogi - Hậu Nhân của Atlantis gửi thông điệp cho người em


 

 

youtu.be/W74heTWp2xk?si=s_x2hG9xdgVQG9Ud

https://

Tiền là Nợ - Money as Debt

Tiền là Nợ  - Money as Debt

 

https://youtu.be/gm4qsFcW3nA?si=FGV7nwWrlqyttXux

Phim Sự phản bội ở Vatican

Phim Sự phản bội ở Vatican

 

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2022

Da đen và lịch sử Phi châu: thế Ai Cập da gì?

Da đen và lịch sử Phi châu: thế Ai Cập da gì?

Sáng Ánh

Rất nhiều người nghĩ là Phi châu không có sử. Thật ra, là vì không ai, tức là da trắng, nói tới thôi. Và nếu da trắng không nói tới thì sao ta biết được.

Một l‎í do là vì nhiều văn minh Phi châu không có chữ viết nên không để lại sử sách trực tiếp mà phải đi nhờ nhà người ta, thí dụ sử sách Ả rạp hay sử sách Tây phương. Lí do khác là các công trình xây dựng tại Phi châu nhiệt đới và thời tiết ẩm như đền đài là bằng gạch nung, bằng gỗ vì khu vực không sẵn đá v.v. nên chỉ cần bỏ hoang có mấy chục năm là biến mất. (Đây nói qua, như trường hợp của toàn bộ văn minh cổ châu thổ sông Indus từ 3000-1000 TCN, nền văn minh này tại Ấn còn gọi là Harappan/Saravasti giờ gần như không ai biết đến vì không để lại chữ viết và di tích.)

Nhưng may thay, nói đến Phi châu ta còn có Ai Cập.

Ai Cập có chữ viết, sẵn đá nên còn tồn tại các di tích mấy ngàn năm. Khí hậu khô và sa mạc nên còn giữ được tất, ngay cả xác ướp, và khu vực này tuy qua nhiều thay đổi và nhiều thời đại khác nhau trong nhiều ngàn năm nhưng liên tục có người ở.

Không ai có thể chối cãi là văn minh A Cập xưa cổ, hoành tráng, di tích to đùng và ở ngay Phi châu. Nhưng Ai Cập là ở tại Bắc Phi sát ngay bên Tiểu Á và được cho là ngoại vi hay ngoại lệ chứ không phải là một nền văn minh “ da đen”, vì Phi châu theo nghĩa hẹp ta vẫn hiểu là da đen.

Thời cổ dĩ nhiên đã có khái niệm màu da nhưng khái niệm này rất khác với ngày nay, nhất là khác với khái niệm màu da ngày nay tại văn hóa đang thống trị thế giới là văn hóa Mỹ. Nói cách khác, ta hiện dùng tiêu chuẩn ngày nay của văn hóa này để soi ngược lại giai đoạn 2000 hay 4000 năm trước nên không khỏi bị méo mó cái nhìn.

Ai Cập mà ta biết về sau này là qua Tây phương tức là đế quốc La Mã vào thời kỳ đầu Công nguyên. Nữ hoàng Cleopatra của Ai Cập là người Hy Lạp. Nhà Ptolémé cai trị Ai Cập lúc đó là từ một tướng lãnh Hy Lạp của đại đế Alexander. Dân tộc Ai Cập lúc đó đã pha lẫn và sao thì Cléopatra cũng không đại diện được cho người dân của nước bà về mặt màu da vì bà thuộc giai cấp thống trị của triều đại Ptolémé.

Phía Tây của Ai Cập là người Bắc Phi sắc tộc Berber (Lybia), tức là da trắng nhưng nước da tái mét như té sông mới lóp ngóp bò lên chứ không được đẹp như người da trắng châu Âu nhe.

Phía Đông của Ai Cập là người Tiểu Á, Trung Đông, nước da dạng lôm nhôm không giống ai hết, còn gọi là sắc da ô-liu, giống chăng là giống Giê-su Ki tô thôi vì ông sanh ra tại khu vực này.

Người Ai Cập thì không cần khát khao, không cần ước ao, cũng có một làn da nâu. Da nâu cỡ nào thì khó nói, có thể gọi là đen.

Trên mộ của Seti 2 : 4 người Ai Cập (da nâu) khăn trắng, 4 người Tiểu Á (Syria da nhôm) 4 người Nubia da đen và 4 người Lybia Bắc Phi da trắng. Hình từ trang này

Văn minh Ai Cập xuất hiện và phát triển dọc sông và dòng Nile thì rất dài, 6650 km với châu thổ rộng gấp 10 diện tích của Việt Nam (3,3 triệu km2). Nhưng từ Khartoum (thủ đô của Sudan ngày nay) ra tới biển trên 2600 km, dòng Nile bị phân chia thành 7 khúc với 6 thác nước (cataract) khiến tàu thuyền không di chuyển được. Sông có khúc và Ai Cập có lúc. Người ta phân biệt dòng Nile thành hai khu vực, châu thổ trước thác nước thứ nhất là Hạ Ai Cập, giàu có và canh tác màu mỡ ; Thượng Ai Cập là từ thác thứ nhì cho đến thác nước thứ sáu. Sau thác nước thứ sáu là vùng đất có tên Kush của người Nubia.

NUBIA

Người Nubia, đen không thể chối cãi.

Tại phía Nam này người Nubia để lại di tích Napta Playa (4500-3600 TCN) là một vòng tròn xếp đá khủng. Các tảng lớn nhất nặng mấy tấn, cao 3 mét và ngang 2 mét, được xếp đặt hình như để tính lịch, đông chí và hạ chí gì đó ta chưa hiểu lô gích nhưng ngay ngắn và có tính toán. To đến nỗi, có người cho đây là một công trình của người ngoài hành tinh. Vậy hỏi, người ngoài hành tinh thì da màu gì? Có đen không hay là chỉ có trắng?

Di tích đá Napta Playa ở Sudan. Hình từ trang này 

Từ đó trở đi, và có thể nói là cho đến ngày nay, quan hệ giữa Nubia và Ai Cập rắm rối trong 50 thế kỷ. Họ lẫn lộn, pha trộn và Ai Cập đã có lúc dùng quân dùng tướng Nubia để chống lại miền Bắc hai hướng Đông Tây, là người Lybia hoặc người Assyria, Hyksos. Cung thủ Nubia từng là một lực lượng quan trọng của quân đội Ai Cập. Một số đại đế Ai Cập (Pharaoh) năm 2000 TCN đã từng là gốc đen Nubia đồng hóa và không có đợi Barack Obama.

Cung thủ Nubia trong quân đội Ai Cập. Da đen trong quân Ai Cập là một truyền thống mấy chục thế kỷ. Hình từ trang này 

Nói chung là qua bằng ấy thời kỳ, cứ Ai Cập mạnh thì Nubia yếu và ngược lại. Sau đó Nubia rơi vào quỹ đạo của Ai Cập trở lại như trong bài hát Gia tài của mẹ (Nubia) “1000 năm nô lệ giặc Ai Cập”. Triều đại thứ 25 (746-653 TCN) của Ai Cập là một đế triều do Nubia “Ai Cập hóa” cai trị, xây đền xây đài nhưng các Pharaoh đen này, da thì đen và gốc thì miền Nam nhưng thuộc văn minh Ai Cập về mặt văn hóa.

MEROE

Đến khoảng 500 TCN-300 CN, một đế chế độc lập ở phía Nam được thành lập chung quanh thủ đô Meroe. Dĩ nhiên họ có nhiều điểm tương đồng và pha trộn với Ai Cập. Họ bắt đầu dùng chữ Ai Cập nhưng sau phát minh ra một bộ chữ viết riêng, giờ đã tuyệt tích và không ai còn hiểu.

Phụ nữ tại đây cũng quyền lực, thay nhau làm nữ chúa (Kandake). Bà Amanirenas (40 TCN) được La Mã tả là một con mẹ không những giống đàn ông mà còn chột mắt! Bà này một mắt mở một mắt nhắm mang quân đánh La Mã khiến họ không chiếm đóng được và phải hòa ước giao thương với vương quốc phía Nam này. Thành Meroe phần di tích còn để lại rất nhiều lăng hình kim tự tháp, kiểu Ai Cập nhưng bé hơn và nhọn hơn.

Tại Sudan ngày nay còn 200 kim tự tháp là lăng tẩm của vua chúa và đại gia thời đại Meroe. Hình từ trang này 

AKSUM

Vương quốc Aksum sau đó (TK 2-TK 9 CN) đã mang Ki tô giáo Ai Cập (Coptic) sang Sừng Phi châu. Ki tô tại khu vực này theo thuyết Giê-su nhất nguyên hay nhất thể (Monophysite) và còn tồn tại tới ngày nay tuy bị giáo hội La Mã coi là dị giáo vô thần. Phần di tích của người da đen Ki tô là những nhà thờ đục trong núi đá Ethiopia tại Lalibela (TK 7-TK 11). Phần lớn phía Nam của Ai Cập theo nhánh Copt Ki tô từ đầu (TK 4) cho đến khi đế quốc Thổ xuất hiện tại khu vực vào TK 15.

Nhà thờ khắc trong núi đá tại Lalibela, Ethiopia (TK 12). Hình từ trang này 

À, như vậy, chí ít là ở miền Đông, Phi châu cũng có sử mà còn hơi bị hoành tráng, tuy anh ba da đen Kush-Nubia phải lấp ló cái đầu đằng sau anh hai Ai Cập da nâu. Xưa thì có, 50 thế kỷ lẻ, và di tích thì có đây và đó, chữ viết cũng có, văn hóa cũng có, kể cả văn hóa Ki tô.

Nói lại, Ai Cập là ở Phi châu, là văn minh thượng cổ phát triển dọc dòng Nile, dư thừa ăn mặc đến nỗi chúa của họ bóp cổ người dân để xây dựng được những đền đài và lăng tẩm vĩ đại trông thấy khiếp. Nhưng chính vì thế mà các nền văn minh khác tại Phi châu bị bóng các Kim tự tháp đè. Văn minh Ai Cập khởi thủy là da nâu, pha lẫn với da trắng Bắc Phi ở phía Tây với ô liu Tiểu Á ở phía Đông và pha lẫn với da đen Nubia ở phía nam. Chuyện tình của 1 nữ hoàng Ai Cập (Cleopatra) gốc Hy Lạp muộn màng vào đầu Công nguyên với một tướng lãnh La Mã (Mark Anthony) được Hollywood dựng phim đã khiến ta tưởng Ai Cập toàn là da trắng. Nhưng kim tự tháp, đền đài và lăng tẩm đồ sộ của văn minh này không do người Hy Lạp hay La Mã xây dựng mà đã có 3000 hay 2000 năm trước Mark Anthony và Cleopatra, và do các triều đại da nâu-da đen thời đó.

*

_______________

Nguồn: soi.today

Video Chương trình ĐỐI DIỆN 29/7/2026: Bảo vệ lịch sử trước tư tưởng sai lệch

    Lịch sử luôn có giá trị trường tồn, mọi nỗ lực nhào nặn hay bóp méo quá khứ có thể thu hút dư luận trong chốc lát, nhưng chắc chắn khôn...

Popular Posts