Kể chuyện Thăng Long - Hà Nội
Tác giả Chitto - phuot.vn
Kết thúc triều Lý
Năm 1225, Thăng Long chứng kiến sự kết thúc của
triều Lý sau 215 năm.
Lý Chiêu Hoàng (8 tuổi) trong sự bất lực của cha, sự hoan hỉ
ngấm ngầm của mẹ, sự lạnh lùng mưu mô của ông cậu gian hùng, đã lấy người anh họ
Trần Cảnh (7 tuổi), rồi sau đó nhường ngôi cho chồng. Nữ hoàng không được họ Lý
công nhận, do đó chỉ tính Lý Bát đế, tương ứng với 8 ngôi chùa mà Thái Tổ đã dựng
xưa kia ở quê. Ngoài ra còn 2 vua Lý nữa không được công nhận chính thức, được
lập tại Thăng Long khi Cao Tông và Huệ Tông bỏ chạy.
Thời kỳ 200 năm bình yên, hưng thịnh của nhà Lý
cũng là thời kỳ Thăng Long được yên ổn lâu dài nhất trong lịch sử của nó. Về
sau không bao giờ Thăng Long được bình an lâu đến thế.
Trong số 9 vua chính thức, 2 vua không chính thức
của nhà Lý, chỉ có mỗi một vua được đặt tên phố tại Hà Nội ngày nay là Lý Thái Tổ, con phố đẹp cách phía Đông hồ Gươm một chút.
Một số đại thần nhà Lý cũng được đặt tên phố: Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành, Tôn Đản, Lý Đạo
Thành, có lẽ hơi quá ít cho một triều đại đặt nền móng
rất vững chắc cho Thăng Long và Đại Việt.
Trần Thủ Độ - Trần Thị Dung
Cuộc chuyển giao từ Lý sang Trần hoàn toàn nằm dưới
sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, một bậc gian hùng hết lòng vì sự vững chắc của
dòng họ, mà sẵn sàng nhẫn tâm tàn bạo với triều vua trước, và lạnh lùng cả những
người cháu mà chính mình dựng lên làm hoàng đế, làm vương. Bên cạnh đó là bà chị
họ của ông, về sau cũng là vợ của ông, Trần Thị Dung, bỏ mặc nhà chồng, bỏ mặc con gái để củng cố cho
gia tộc họ Trần của mình. Cũng nhờ đó mà nhà Trần vững mạnh và oai hùng bậc nhất
trong lịch sử.
Trần Thủ Độ được phong là Thái sư, Thượng phụ, Thống quốc,
quyền trên cả vua. Tuy nhiên đến khi mất rồi mới được truy phong tước Vương
(Trung Vũ đại vương).
Còn Trần Thị Dung là người phụ nữ trải qua nhiều tước vị nhất
trong lịch sử. Từ con gái một gia đình dân thường, thành Vương phi của Thái tử,
rồi Nguyên phi của Hoàng đế, bị giáng làm Ngự nữ, nâng lên Phu nhân, rồi lập
làm Hoàng hậu. Chồng nhường ngôi rồi thì làm Thái thượng hoàng hậu, chồng bị ép
chết thì thành Hoàng thái hậu triều Lý, nhưng chỉ là Công chúa triều Trần, ở bậc
Hoàng cô nên còn gọi là Thái trưởng công chúa. Rồi không lâu sau lại lấy Trần
Thủ Độ, thành phu nhân của Thái sư.
Với vua Trần Thái Tông, bà Trần Thị Dung vừa là cô
ruột, vừa là mẹ vợ (mẹ của cả hai bà vợ), lại vừa là bà thím. Do đó gọi luôn là
Quốc mẫu: Linh Từ Quốc mẫu.
Tại Thăng Long sau này không có đền thờ các vua Trần,
nhưng lại có một nơi thờ Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung, là chùa Cầu Đông trên phố Hàng Đường. Tương truyền hai người
đã cho trùng tu ngôi chùa này, nên chùa lập tượng để thờ. Đó cũng là một di
tích rất đặc biệt, vì đây là nơi duy nhất lập tượng hai người được để cạnh nhau
với tư cách hai vợ chồng.
Tượng vợ chồng Trần Thủ Độ - Trần Thị Dung tại
chùa Cầu Đông
Trần Liễu và Trần Cảnh
Trần Cảnh làm vua Thái Tông ở Thăng Long, thì anh
trai là Trần Liễu ở quê, lấy được công chúa nhà Lý là Thuận Thiên nên cũng yên
lòng. Nhưng rồi cũng lên Thăng Long cùng em và cha.
Nhà Trần xuất thân dân dã, nên thời đầu lễ nghi
khá tự do không câu nệ. Em trai làm hoàng đế, tôn cha làm Thượng hoàng rồi, thì
cũng gọi ông anh trai là Hiển hoàng, nghĩa là cũng có tước hoàng đế nốt. Điều này
cũng khiến Trần Liễu (mới ngoài 20 tuổi) có hi vọng ngôi về mình.
Thời Lý chưa đắp đê dọc sông Cái, chỉ đắp đê quanh
Thăng Long. Năm ấy đê vỡ, nước tràn cả vào thành, Trần Liễu 25 tuổi bơi thuyền
vào Hoàng cung, thấy cô cung nữ của vua Lý cũ vén áo lội nước, liền cưỡng bức luôn.
Chuyện lộ ra, Trần Liễu mất cái tước "Hoàng", lại làm Vương, Trần Thủ
Độ ghét đứa cháu phóng túng lắm.
Năm sau, thấy Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng mãi mà
không có con (hai người mới 19 tuổi chứ mấy), trong khi cô chị Thuận Thiên 21
tuổi đã kịp sinh một con trai, lại đang có mang người thứ hai với Trần Liễu,
nên Trần Thủ Độ lạnh lùng bắt Trần Cảnh bỏ Chiêu Hoàng, bắt Thuận Thiên đang là
vợ anh sang làm vợ em, để có gì thì còn có người nối dõi. Trần Cảnh kinh sợ mưu
mô trái đạo của ông chú gian hùng, bỏ trốn khỏi Thăng Long lên Yên Tử. Trần Liễu
cũng đem quân làm loạn.
Thế là lần đầu tiên trong triều Trần, vua bỏ trốn
khỏi Thăng Long.
Thủ Độ đón vua về xong, ép được vợ anh sang làm vợ
em, muốn giết Trần Liễu nhưng Trần Cảnh ngăn được. Thế là Trần Liễu phải rời
Thăng Long, về đất Yên Sinh làm Yên Sinh Vương, ở đó đến khi chết không về kinh. Thuận Thiên thì
sinh được hai trai nữa với Trần Cảnh, khiến Thủ Độ khỏi lo.
Trần Thái Tông cũng là người sai dựng các ngôi
Đình trên khắp đất nước để làm chỗ nghỉ chân cho vua quan khi kinh lý, đặt tượng
Phật để thờ. Các ngôi đình làng ra đời từ đó.
Cũng sau vài lần vỡ đê nước ngập Thăng Long, nhà
Trần mới cho đắp đê dọc sông Cái, tạo thành hệ thống đê cho đến nay.
Chống Nguyên lần 1
Thời Trần Thái Tông, Đại Việt có được khoảng 30
năm bình yên. Nhà Trần sau khi dẹp xong các thế lực, củng cố vương quyền, đắp
đê ngăn lũ, tu sửa cung điện tại Thăng Long, lại lập cung điện tại quê và phủ
Thiên Trường.
Bấy giờ tại phương Bắc, Mông Cổ hùng mạnh đã thôn
tính hàng loạt nước, một cánh quân của Ngột Luơng Hợp Thai đánh thẳng xuống nước Đại Lý (Vân Nam), rồi
định vòng từ phía Nam lên để làm hai gọng kìm tiêu diệt nhà Tống.
Năm 1258, Ngột Lương Hợp Thai sai sứ giả sang
Thăng Long yêu cầu hàng phục để lấy đường diệt Tống. Có lẽ lúc đó nhà Trần chưa
nắm chắc được sức mạnh quân Mông Cổ, nên bắt giam 3 sứ giả, rồi cho quân lên chặn.
Ngột Lương Hợp Thai tức giận xua 3 vạn quân xuôi sông Hồng, phá vỡ các phòng
tuyến. Vua Trần đích thân cầm quân cũng không chống nổi, vội vàng bỏ cả Thăng
Long chạy về mạn biển. Các vương hầu chạy theo vua, còn đám phụ nữ chậm chân,
may có Linh Từ Quốc mẫu bình tĩnh, nên sơ tán được hết cả sang bên kia sông Hồng,
bỏ chạy.
Thành Thăng Long lần đầu gặp đội quân tấn công mạnh,
thất thủ gần như ngay lập tức. Ngột Luơng Hợp Thai vào thành, thấy ba sứ giả
còn bị trói ở đó, một người chết, tức giận sai tàn sát tất cả dân trong thành
chưa kịp chạy. Lần đầu Thăng Long rơi vào tay giặc từ phương Bắc.
Vua Thái Tông (40 tuổi), lo lắng hỏi Trần Thủ Độ.
Vị Thái sư 64 tuổi khảng khái trả lời bằng một câu nổi tiếng: Đầu thần hãy còn, bệ hạ đừng
lo !
Thế là, 10 ngày sau khi thất thủ, nhà Trần đem
thuyền ngược sông Cái tiến đánh ở Đông Bộ Đầu, quân Nguyên cũng không có kế hoạch chiếm đóng
lâu, nê lập tức rút lui. Chiến thắng Đông Bộ Đầu đã kết thúc cuộc chiến chống
Nguyên lần 1, cuộc chiến chỉ trong vòng nửa tháng.
Đông Bộ Đầu là đây ! Ai có thể nghĩ rằng cái bãi
sông Hồng mùa nước cạn, với bãi bồi giữa sông này 750 năm trước lại là nơi đi
vào lịch sử! Trăm năm biến đổi, xoá hết dấu tích xưa rồi !
Chống Nguyên lần 2 và 3
27 năm sau trận chiến Đông Bộ Đầu, năm 1285 quân
Nguyên quay lại lần 2, và năm 1288 quay lại lần 3. Giai đoạn lịch sử này nổi tiếng
quá rồi, không dám viết lại nữa.
Tại Thăng Long, sự kiện lịch sử diễn ra cuối năm
1284 là Hội nghị Diên Hồng, khi Thượng hoàng Thánh Tông triệu tập các bô lão
tại thềm điện Diên Hồng, ban yến và hỏi hoà hay đánh, thì tất cả đồng thanh
ĐÁNH. Đây là chiến lược lấy lòng dân đồng thời truyền chính kiến của triều đình
rất hiệu quả.
Năm 1285, nhà Trần rút khỏi Thăng Long, nhưng khác
trước, đã có sự chuẩn bị từ trước nên khi quân Thoát Hoan vào, Thăng Long trống
rỗng không người, không lương, không kho tàng. Do đó Thoát Hoan không ở lại đây
mà đóng bản doanh bên kia sông, chỉ để quân giữ thành. Bốn tháng sau, sau trận
Chương Dương, Hàm Tử, Trần Quang Khải lấy lại Thăng Long, rồi rước hai vua về.
Ông đã làm bài thơ nổi tiếng:
Tụng giá hoàn kinh sư (Theo vua về kinh đô)
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu.
Năm 1288, Thoát Hoan lần nữa chiếm được một Thăng
Long rỗng không, rồi hai tháng sau phải rút chạy. Trước khi rút, quân giặc đốt
cung điện, phố xá. Nhà Trần sau khi hoà bình phải xây dựng lại từ đầu.
Sau 3 lần thất thủ trước quân Nguyên Mông, Thăng
Long được yên ổn hơn 80 năm, cho đến khi lại bị thất thủ trước quân Chiêm Thành
4 lần nữa.
Trần Hưng Đạo
Ba lần chống Nguyên anh hùng là thế, các vương hầu,
tướng lĩnh có công về sau được lập đền thờ ở rất nhiều nơi, tại Thăng Long cũng
có nhiều, nhưng đến nay còn lại thì rất ít.
Quốc công Tiết chế, Thượng phụ, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn là người được người dân tôn thờ nhiều nhất,
tôn là Đức Thánh Trần, được phối thờ ở nhiều ngôi đền, chùa. Cách gọi Họ
+ tước là Trần Hưng Đạo vốn là cách gọi dành riêng cho vua, trong lịch sử chỉ
duy nhất Trần Quốc Tuấn không phải vua mà được dùng cách gọi này. (chỉ có vua mới
dùng Họ + Miếu hiệu: Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông; người khác dùng Tước +
tên: Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải).
Xưa kia ở phía đông hồ Lục Thuỷ (tức là hồ Gươm)
có đền Hựu Linh thờ Trần Hưng Đạo, nhưng sau Pháp phá đi, thì dân đã chuyển tượng
thờ vào đền Ngọc Sơn.
Và đến nay, ngôi đền địa thế đẹp nhất Hà Nội có
gian Thượng điện dành để thờ vị Võ Thánh của người Việt. Pho tượng thờ có khuôn
mặt màu đỏ thể hiện tấm lòng son sắt với vua, với dân, với nước của ông. Tôi đã
thăm một số nơi có tượng cổ thờ Trần Hưng Đạo, nhưng cảm thấy pho tượng trong đền
Ngọc Sơn là đẹp nhất, có thần nhất, sống động, oai nghiêm mà lại cũng gần gũi.
Uy Linh Lang
Tại Thăng Long còn tôn thờ thần Uy Linh Lang từ đời Trần (lưu ý, không phải Linh Lang đời
Lý).
Truyền thuyết kể rằng Uy Linh Lang là con vua Trần Thánh Tông và bà Chính Cung
Minh Đức hoàng hậu, có tên Trần Văn Lang. Ông chiêu tập được cả vạn binh mã, đặt
tên là Thiên tử quân cùng chống giặc Nguyên. Sau khi dẹp yên giặc, ông không bệnh
mà mất ở phủ tại khu vực Nhật Tân. Vua Trần thương tiếc sai dựng điện Nhật Chiêu để thờ, đến nay là đình Nhật Tân trên đường
Âu Cơ.
Tuy nhiên trong sử thì vua Trần Thánh Tông không
có bà vợ nào là Minh Đức cả, mà cũng không có con trai nào tên như thế, hoặc có
hiệu như thế. Dân gian đã sáng tạo nên hình tượng vị thần có phần mang màu sắc
Thuỷ thần, gán vào làm con vua, có công đánh giặc rồi thành thần.
Uy Linh Lang đời Trần như thế rất giống với Linh Lang đời Lý, cùng có truyền thuyết là con vua,
cùng chống giặc, cùng gắn với sông hồ, cùng mơ hồ như nhau. Phải chăng cả hai
là một, nhưng được thần thánh hoá vào hai triều đại khác nhau ?
Đình Nhật Tân, theo truyền thuyết thì nguyên là điện
Nhật Chiêu, nơi thờ Uy Linh Lang
Quanh hồ Tây còn vài nơi thờ Uy Linh Lang. Có ngôi đền trên
phố Thuỵ Khuê thờ Uy Linh Lang, ngoài cửa cũng có hai con voi, nên cũng có tên
là đền Voi Phục, khiến có người nhầm lẫn.
Một số báo chí cũng không phân biệt được vị thần ở
đền Voi Phục Thuỵ Khuê là thần Linh Lang của Voi Phục Thủ Lệ, vì chỉ khác nhau
chữ Uy mà thôi (hồi trước tôi cũng thế). Cũng vì vậy có bài báo nói những cây cổ
thụ trong đền Voi Phục Thuỵ Khuê là có từ nghìn năm trước.
Đền Voi Phục Thuỵ Khuê, thờ Uy Linh Lang là vị
nhân thần đời Trần.
Dẹp xong giặc Nguyên, Trần Nhân Tông đi tu ở Yên Tử, truyền
ngôi cho Trần Anh Tông, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, trờ thành dòng chính thống
chủ đạo. Từ Yên Tử, Đông Triều, Hải Dương, Nam Định có hàng loạt ngôi chùa mới
dựng theo thiền phái. Tuy nhiên tại Thăng Long thì sử dụng chùa Chân Giáo, chứ
triều Trần không dựng thêm chùa mới.
Sau chiến tranh, dân cư lại tập trung đông đúc về
Thăng Long, khu phố chợ bên ngoài hoàng thành chắc cũng đông vui lắm, nên vua
Anh Tông đến buổi tối là trốn ra khỏi hoàng cung để đi chơi, có lần còn bị ném
đá vỡ cả đầu.
Bấy giờ các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, Ai Lao
cũng giao thiệp thường xuyên, nên đã có khu Quán Sứ để đón tiếp sứ giả các nước.
Quán Sứ đời Trần có nằm ở vị trí Quán Sứ đời Lê và chùa Quán Sứ hiện nay không
thì không dám chắc.
Trong hai triều Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, đất
nước yên ổn, Thăng Long lấy lại sự huy hoàng xưa, và có lẽ còn đẹp đẽ hơn trước.
Nhưng cũng chỉ được vài chục năm...
Hình con rồng đầu đời Trần, mạnh mẽ oai phong
Chu Văn An
Hào quang anh hùng của cha ông qua đi, con cháu
nhà Trần được sống trong nhung lụa dần quay sang thối nát, còn tệ hơn cuối triều
Lý trước kia. Trần Minh Tông mất rồi, Dụ Tông bắt đầu tàn phá cơ nghiệp họ Trần
từ năm 1358.
Chu Văn An, người Thanh Trì, Hà Nội hiện nay, là nhà nho
danh tiếng bậc nhất bấy giờ, làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Ông dâng Thất trảm sớ xin chém 7 kẻ gian thần, nhưng vua không
nghe, nên về Chí Linh ở ẩn. Đời sau tôn ông là Văn Thánh của Đại Việt, coi là Thiên Nam sư biểu, cùng
với Võ Thánh Trần Hưng Đạo, là hai bậc thánh nhân của triều
Trần.
Ngày nay, tại nhà Thái Học mới làm lại phía sau
Văn Miếu, chính điện thờ tượng của ông, là vị thầy tiêu biểu cho Chính học trời
Nam, cũng là cho nền Học thuật nước nhà.
Tượng Chu Văn An trong nhà Thái Học
_______________
Nguồn: Chitto - phuot.vn







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét