Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2017

Văn hóa Đông Sơn

 



Văn hóa Đông Sơn - 85 Năm phát hiện và nghiên cứu

Nguyễn Quốc Bình (9/5/2009) (Doremon360 bổ sung thêm tư liệu và hình ảnh)

Văn hoá Đông Sơn được đặt tên theo di tích khảo cổ Đông Sơn tìm được năm 1924 ở xã Đông Sơn thuộc vùng sông Mã, tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam.

Những cuộc khai quật Đông Sơn đầu tiên được tiến hành từ năm 1924 đến năm 1932 dưới sự điều khiển của L. Pajot, một viên chức thuế quan và cũng là người sưu tầm cổ vật ở Thanh Hoá. Trong bản báo cáo năm 1929 về các chuyến khai quật kể trên, ông V. Goloubew, một học giả Pháp thuộc trường Viễn Đông Bác cổ, đã mệnh danh đó là: "Thời đại đồng thau ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ" để ám chỉ nền văn hoá khảo cổ mới được khám phá này. Thuật ngữ “Văn hóa Đông Sơn” được nhà khảo cổ học người Áo R. Heine - Geldern đề xuất lần đầu tiên năm 1934.

Đèn đồng Đông Sơn.

Công cuộc nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam từ năm 1954 đến nay đã xác định được rõ ràng Văn hoá Đông Sơn là nền văn hoá thuộc sơ kỳ thời đại đồ sắt, tồn tại khoảng gần một thiên niên kỷ, từ thế kỷ VIII trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ I sau Công Nguyên. Tuy nhiên ở nhiều nơi thuộc khu vực nền văn hoá này còn có thể kéo dài tới thế kỷ II - III sau Công Nguyên.

Văn hoá Đông Sơn ra đời là kết quả của sự hội tụ của nhiều văn hoá rực rỡ trước văn hoá Đông Sơn thuộc thời đại đồng thau trong quá trình chiếm lĩnh vùng đồng bằng các con sông lớn ở miền Bắc Việt Nam, chủ yếu là lưu vực sông Hồng. Phạm vi phân bố của nền văn hoá Đông Sơn trên cơ bản là trong phạm vi ở miền bắc Việt Nam. Sự ra đời của kỹ thuật đồ sắt của thời kỳ này đã giúp cho kỹ thuật luyện đồng thau được hoàn thiện, đồ đồng thau Đông Sơn phát triển rực rỡ.

Trống đồng Đông Sơn ghi dấu khắp nơi tại Đông Nam Á.

Có khoảng 500 di tích đã được biết đến của văn hoá Đông Sơn hiện tồn tại ở Việt Nam, từ biên giới của Việt Nam với Trung Quốc về phía Bắc; với Lào ở phía Tây; và tỉnh Quảng Bình ở phía Nam. Trong đó bao gồm đủ các di tích khảo cổ tiêu biểu như các di chỉ cư trú; di tích mộ táng; di chỉ - di tích cư trú - mộ táng; di tích xưởng, di chỉ - di tích cư trú - xưởng; và nhiều nhất là các di tích tìm thấy hiện vật lẻ tẻ. Tỉnh phát hiện được nhiều di tích nhất là Thanh Hoá, với 80 địa điểm. Vùng đồng bằng sông Hồng có gần 130 di tích, trong đó một phần ba ở tỉnh Hà Tây. Ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình vùng sông Cả, địa phận cực nam của văn hoá Đông Sơn, có tới 54 di tích.

Các cuộc nghiên cứu khảo cổ ở Việt Nam từ năm 1954 đến nay đã xác định được là nền văn hoá Đông Sơn với chủ nhân là Âu Lạc cổ đã tồn tại được gần một thiên niên kỷ, từ cuối thời đại đồng thau sang thời đại đồ sắt. Bước chuyển sớm nhất từ văn hoá Quỳ Chử, nền văn hoá trước Đông Sơn trên thực tế đã diễn ra ở đồng bằng sông Hồng. Kết quả các xét nghiệm C.14 trên các mẫu tro than lấy từ tầng địa chất Đông Sơn sâu nhất ở các khu Đồi Đà và Chùa Thông, tiêu biểu của vùng sông Hồng là 2704 90 (ZK 305) và 2655 90 (ZK 309).

Như vậy người ta có thể xác định được văn hoá Đông Sơn ở vùng này bắt đầu từ khoảng thế kỷ VIII - VII trước Công Nguyên. Ở vài nơi trong vùng, các chuyên viên khảo cổ đã khai quật được những nông cụ bằng sắt và dấu tích của sự luyện sắt trong tầng lớp văn hóa Đông Sơn sớm. Ở vùng sông Mã giai đoạn chuyển tiếp từ Quỳ Chử sang Đông Sơn có phần muộn hơn, vào khoảng thế kỷ VII - VI trước Công Nguyên.

Lưỡi cày đồng.

Văn hoá Đông Sơn phân bố rộng nhưng vẫn mang tính thống nhất rất đậm nét. Trải qua 85 năm nghiên cứu, ngày nay chúng ta hiểu rằng đó là sự thống nhất giữa người Lạc và người Âu trong khối Việt cổ ở Đông Nam Á cổ đại. Môi trường và cảnh quan sinh thái của những vùng phân bố di tích Đông Sơn rất thuận lợi cho cuộc sống của con người khiến cho nhiều di tích văn hoá Đông Sơn được con người sử dụng kế thừa liên tục trong suốt 2000 năm (môi trường tối ưu đối với những người thuộc nền văn minh trồng lúa nước).

Sự thống nhất được thể hiện rõ nhất là sưu tập đồ đồng Đông Sơn. Một biểu tượng nổi bật của nền văn hoá Đông Sơn là trống đồng với kỹ thuật chế tạo vô cùng tinh xảo. Văn hoá Đông Sơn đã sản sinh trống Đông Sơn, nhưng không phải chỉ có người Đông Sơn mới dùng và đúc trống Đông Sơn, cho nên ngoài trống Đông Sơn ra tính thống nhất được thể hiện rõ nét hơn đó là những chiếc rìu lưỡi xéo hình bàn chân hay hình dao xén của thợ giầy, những chiếc dao găm đốc hình thuẫn, hình củ hành.

Trồng đồng Sông Đà.

Rìu đồng lưỡi hài, gót vuông.

Đặc biệt là những chiếc dao găm có cán được đúc thành khối tượng người đứng với hai tay chống nạnh, những đồ đựng bằng đồng như: những chiếc thạp, thố có hoa văn trang trí như hoa văn trang trí trên trống đồng.

Dao găm đồng Đông Sơn.

Thạp đồng Đào Xá.

Các đồ đồng khác thuộc vào các bộ hiện vật của công cụ sản xuất, vũ khí, đồ dùng sinh hoạt, nhạc khí, đồ trang sức nghệ thuật cũng rất dễ nhận biết tính Đông Sơn của nó thông qua những biểu hiện bên ngoài như hình dáng, và hoa văn trang trí.

Vật dụng bằng đồng.

Rìu đồng Đông Sơn.

Một số loại kiếm đồng Đông Sơn

Giáp chân giáp tay bằng đồng.

Giáp ngực bằng đồng.

Lãy nỏ và kiếm đồng.

Lãy nỏ bằng đồng.

Với kỹ thuật luyện kim độc đáo của người Đông Sơn, lớp bụi thời gian phủ trùm lên các hiện vật này đã tạo nên lớp áo gỉ đồng mang màu sắc đặc biệt khiến chúng không thể nào lẫn với các hiện vật được chế tạo ở các trung tâm đúc đồng khác.

Tính thống nhất của văn hoá Đông Sơn là một sự thống nhất trong đa dạng. Bên cạnh sự thống nhất cao, trên phạm vi rộng, sự khác biệt chỉ mang tính địa phương, khu vực. Có thể phân chia văn hoá Đông Sơn thành các loại hình địa phương trong một sự thống nhất chung như:

Loại hình văn hoá Đường Cồ, hay loại hình văn hoá Sông Hồng.

Loại hình văn hoá Đông Sơn hay loại hình văn hoá Sông Mã.

Loại hình văn hoá Làng Vạc hay loại hình văn hoá Sông Cả.

Sự khác biệt địa phương có nguyên nhân sâu xa từ những nguồn gốc khác nhau của văn hoá Đông Sơn, trong quá trình ra đời trên cơ sở những nền văn hoá tiền Đông Sơn ở lưu vực các con sông lớn trong khu vực. Tính đa dạng đồng thời cũng là kết quả ứng xử của người Đông Sơn với các môi trường, vùng vi sinh thái khác nhau.

Sự đa dạng của đồ đồng Đông Sơn đã phản ánh sự khác biệt địa phương của văn hoá Đông Sơn. Tuy cùng một loại hình hiện vật nhưng các vùng khác nhau hình dáng của chúng cũng rất khác nhau.

Có thể kể ra đây một vài trường hợp để làm ví dụ:

Những chiếc rìu lưỡi xéo ở vùng sông Hồng có hình bàn chân hay chiếc ủng, nhưng những chiếc rìu lưỡi xéo ở vùng sông Mã lại có hình dao xén của thợ giầy.

Cùng là loại giáo có họng tra cán nhưng giáo của vùng sông Hồng thường có phần họng ngắn hơn phần lưỡi, mặt cắt ngang của lưỡi là một hình thoi biến dạng. Trong khi đó, giáo của vùng sông Mã lại có mặt cắt ngang là hình thoi cân đối, nhiều chiếc còn có thêm những lỗ thủng. Loại giáo hình lá mía có chuôi tra cán có thể nói rằng đó là sản phẩm riêng của vùng sông Mã.

Một số loại giáo đồng Đông Sơn.

Những hiện vật được tạm gọi là lưỡi cày ở vùng sông Hồng có hình lá trầu hay hình tim, kích thước lớn, nhưng ở vùng sông Mã lại có hình chân vịt, vùng sông Cả có hình tam giác.

Những nông cụ làm đất khác cũng mang đặc trưng vùng miền rất rõ nét như loại thuổng, xẻng của loại hình sông Hồng to khoẻ; của loại hình sông Cả thì nhỏ và mảnh hơn.

Sự khác biệt về tỉ lệ của những hiện vật cùng loại ở các vùng cũng là những biểu hiện góp phần làm nên đặc trưng cho từng loại hình. Kết quả của những cuộc khai quật mộ táng cho thấy cư dân ở lưu vực sông Cả thích dùng dao găm hơn ở vùng sông Mã và sông Hồng.

Giai đoạn cuối của văn hoá Đông Sơn được đánh dấu bằng sự xuất hiện ngày càng nhiều của các hiện vật và yếu tố ngoại lai, thí dụ như đồ minh khí tùy táng bằng đồng thau thay vì chỉ bằng gốm, gỗ trước đó, trong khi đồ đồng bản địa khác biến mất dần trong các mộ táng địa phương. Hiện tượng này tăng lên cùng chiều với sự bành trướng của người Hán xuống phía Nam. Ở các địa bàn văn hoá sông Hồng và sông Mã điều này xảy ra vào khoảng thế kỷ I sau Công Nguyên. Nhưng sâu hơn về phía Nam, ở lưu vực sông Cả, văn hoá Đông Sơn còn kéo dài đến các thế kỷ II - III.

Có thể nói là những người thợ kim khí Đông Sơn đã hoàn toàn làm chủ được kỹ thuật của họ trong tất cả các lĩnh vực của quá trình đúc đồng. Thành phần chính của đồng thau Đông Sơn là đồng, chì, thiếc. Hợp kim của đồng với tỉ lệ chì cao đã trở thành nét độc đáo của cổ đồng Đông Sơn. Kỹ thuật luyện kim và hợp chất đồng đặc biệt này đã được sử dụng một cách đồng nhất trong toàn địa bàn phân bố của văn hoá Đông Sơn, từ vùng đất cao Âu Việt cho đến vùng đồng bằng Lạc Việt của cư dân Âu Lạc thời cổ. Chỉ thỉnh thoảng lắm mới có biệt lệ, thí dụ như chiếc trống đồng Thượng Nông và các nông cụ bằng đồng tìm được ở Cổ Loa gần Hà Nội.

Dựa theo chủng loại và chức năng, các loại đồ đồng thau sử dụng trong khu vực văn hoá Đông Sơn được phân thành 7 nhóm sau đây:

1- Vũ khí: Lưỡi giáo, mũi tên, dao găm, đoản kiếm, rìu chiến, qua, giáp che ngực, vật dụng đeo binh khí, cung và nỏ.

2- Dụng cụ sản xuất: Rìu, cuốc, thuổng, lưỡi cầy, lưỡi liềm, dùi, đục, dũa.

3- Dụng cụ sinh hoạt: Thạp, thố, bình, âu, khay, đĩa, chậu, lọ, ấm, muôi, đèn dầu, cốc trầm.

4- Nhạc cụ: Chuông, lục lạc, trống. Ngoài ra còn có các nhạc cụ như khèn, chiêng, cồng chỉ tìm thấy trong phần trang trí trên các trống, thạp, hoặc các hình tượng nhỏ.

5- Đồ trang sức: Vòng tay, vòng chân, vòng tai, khóa thắt lưng.

6- Hình tượng nhỏ: Thường là các tượng người hay thú đúc nhỏ để gắn trên các hiện vật khác, dùng để trang trí, vừa có công dụng cầm tay hoặc làm móc chặn.

7- Hiện vật minh khí: Đồ thu nhỏ dùng để tùy táng, với hầu hết các vật dụng bằng đồng thau điển hình dùng trong sinh hoạt hàng ngày. Kỹ thuật đúc các đồ đồng này thường sơ sài, mỏng manh.

Chuông đồng có hình voi.

Chuông đồng Đông Sơn.

Một số loại chuông đồng Đông Sơn.

Lọ đồng.

Nhẫn đồng có hình trâu.

Một số loại vòng, kiềng trang sức bằng đồng.

Khóa thắt lưng bằng đồng trang trí hình rùa.

Vật dụng cùng chủng loại ở mỗi địa phương có khác nhau về hình dáng và hoa văn trang trí. Hình dạng của chúng được biến cải cho thích hợp với môi trường thiên nhiên sinh thái của từng vùng. Có ba loại hình dạng và hoa văn trang trí chủ yếu, được tập chung vào ba con sông chính trong phạm vi tồn tại của văn hóa Đông Sơn.

1- Loại hình Đường Cồ, sông Hồng.

2- Loại hình Đông Sơn, sông Mã.

3- Loại hình làng Vạc, sông Cả.

Mối giao lưu trao đổi của văn hóa Đông Sơn với các nền văn hóa láng giềng một mặt góp phần làm tăng thêm những sắc thái địa phương của các loại hình trong quá trình phát triển và hội tụ của nền văn hóa, nhưng mặt khác cũng khẳng định tính cởi mở của người Đông Sơn về sự hòa nhập với các nền văn hóa lân cận.

Phong cách họng lõm ở một số giáo, ở những chiếc rìu chiến, thuổng – mai, kiểu dao găm lưỡi lượn gấp khúc, kiểu dao găm có cán là các khối tượng động vật, khóa thắt lưng, các tượng tròn, tượng bẹt là kết quả học tập của văn hóa Đông Sơn từ các nền văn hóa của các cư dân chuyên chăn nuôi của văn hóa Điền. Những âu có chân, chậu đồng, bình đồng là những hiện vật mà người Đông Sơn đã học từ người Hán nhưng đã biết khéo léo kết hợp những trang trí ưa thích của mình như những đường văn thừng nổi, người trang sức lông chim cách điệu, ngôi sao – mặt trời ở trung tâm các đồ vật. Đồ đồng của nền văn hóa Điền, Hán đã làm phong phú thêm chủng loại hiện vật của văn hóa Đông Sơn. Các khóa thắt lưng do người Đông Sơn chế tạo được gắn thêm các lục lạc trang trí. Những con thú dữ như voi, cọp trên cán dao găm hoặc vòng trang sức của người Điền đã được biến cải thành hiền hòa, dễ mến trong đồ đồng Đông Sơn.

Trong khi văn hóa Đông Sơn tiếp thu những ảnh hưởng từ bên ngoài thì ngược lại, ảnh hưởng của nó cũng lan tỏa đến các vùng văn hóa khác.

Ra ngoài địa phận Việt Nam, ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn cũng đã được nhận ra, trải từ miền Nam Trung Quốc đến các hải đảo phía dưới Đông Nam Á.

Trống đồng Đông Sơn tại Selayar, Indonesia.

Ở các tỉnh miền Nam và duyên hải Nam Trung Hoa, số lượng trống đồng cổ có hoa văn trang trí hình người đội lông chim cách điệu, hình thuyền đi biển, chim lạc và những trang trí hình học đặc biệt của văn hóa Đông Sơn được phát hiện không ít.

Các đồ đồng thau với hình dạng đặc trưng của loại hình sông Hồng như rìu hình bàn chân có hoa văn trang trí hình người hóa trang, rìu gót vuông có trang trí ở họng, dao găm có cán là khối tượng người, rìu hình lưỡi câu có hoa văn hình học, đã được tìm thấy trong khắp vùng hạ lưu sông Dương Tử.

Lao có chuôi tra cán hình ngòi bút, lưỡi cuốc đồng hình chữ U đặc biệt của loại hình sông Hồng đã được sử dụng rộng rãi lan đến tận vùng Bắc sông Trường Giang (sông Dương Tử). Các loại rìu chiến lưỡi xéo, hay gót vuông họng lõm, lưỡi giáo tam giác có lỗ để treo các khối tượng người nhỏ, loại lưỡi cày hình tim đã được dùng rộng rãi trong văn hóa Điền ở Vân Nam. Những đồ đựng ốc tiền bằng đồng thau của vùng văn hóa Điền có xuất xứ từ miền duyên hải Việt Nam.

Trong địa bàn văn hóa Sa Huỳnh phía Nam, lưỡi giáo và rìu Đông Sơn được tìm ra ở các vùng Tam Kỳ, Điện Bàn. Trống đồng Đông Sơn tuy chưa được tìm ra trong các di tích khảo cổ Sa Huỳnh, nhưng chúng đã có mặt ở nhiều nơi trong địa bàn thuộc văn hóa này.

Đặc biệt những năm gần đây ở vùng Tây Nguyên phát hiện được một số lượng lớn các trống loại I Hêgơ, chứng minh sức lan tỏa mạnh mẽ của văn hóa Đông Sơn, cũng như tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa này.

Trống đồng Đông Sơn ở Tây Nguyên.

Dù ở trong hay ngoài phạm vi phân bố văn hóa Đông Sơn, đồ đồng Đông Sơn vẫn dễ nhận ra được với màu sắc rỉ đồng, hình dáng, và các hoa văn trang trí đặc biệt. Đấy là các dấu ấn khó lầm lẫn được của nền văn hóa Đông Sơn độc đáo. Vậy nên có thể nhận xét rằng đồ đồng Đông Sơn, thời đại vàng của Nghệ thuật Việt Nam. Văn hóa Đông Sơn thống nhất đã hình thành nên bản sắc văn hóa thống nhất. Trong cả một thiên niên kỷ mà văn hóa Đông Sơn tồn tại, trên khắp lục địa Á - Âu, những sự thăng trầm đầy kịch tính của các nền văn hóa khảo cổ cũng đồng thời là một thực tế lịch sử. Sự tồn tại sống động và phát triển rực rỡ của nền văn hóa Đông Sơn đã làm nên bản lĩnh Đông Sơn.

Nguyễn Quốc Bình

_______________
Nguồn: Blog doremon360

 

Chữ Việt cổ (P.2)

 

Chữ Việt cổ

(Doremon360 tổng hợp từ bài viết của 2 tác giả Đỗ Quang và Quang Hoà, bổ sung thêm tư liệu và hình ảnh)

. Người Việt ta lập nước rất sớm, nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương đã có thầy giáo và học trò, điều đó chứng tỏ dân tộc ta đã có chữ, nhưng đó là thứ chữ gì ? Trong hơn một chục năm gần đây, vấn đề chữ viết của người Việt cổ đã được đặt ra trên tinh thần nghiêm túc và khoa học trong các hội nghị nghiên cứu thời kỳ các vua Hùng.

. Trong một bản Ngọc phả từ thời vua Trần Thái tông ghi: “Nghiêu thế, Việt Thường thị kiến thiên tuế thần qui, bối hữu Khoa đẩu” nghĩa là thời vua Nghiêu nước Việt Thường tặng rùa thần nghìn tuổi, lưng có chữ Khoa đẩu.

. Theo cổ sử Trung Quốc “vào thời Vua Nghiêu ( năm 2357 trước công nguyên) có sứ giả Việt Thường đến kinh đô tại Bình Dương (phía bắc sông Hoàng Hà - tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con thần quy, vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau”. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch.

. Sang thế kỷ 20, nhờ khảo cổ học và các môn khoa học khác phát triển, cung cấp nhiều bằng chứng khoa học mới về sự tồn tại của chữ Việt cổ. Năm 1979 Giáo sư Hà Văn Tấn phát hiện trên một công cụ bằng đồng - mà các nhà khảo cổ học quen gọi là lưỡi cày hình cánh bướm, đặc trưng cho vùng sông Mã - có hai kí hiệu ở hai bên họng tra cán. Hai kí hiệu này do hai bên không đối xứng nhau, ít có khả năng là hoa văn trang trí, nhiều khả năng là chữ viết. Những chữ việt cổ còn được phát hiện trên nhiều hiện vật khảo cổ khác.

Trên bốn chiếc qua đồng Đông Sơn có chạm khắc 28 ký tự. Đó là những ký tự Việt cổ mà cho đến nay chưa giải mã được.

. Ngược dòng thời gian, năm 1930 một hiện vật gốm quý hiếm được M-CoLan phát hiện dưới chân vách đá Lan Gan ở Hoà Bình. Ban đầu người ta chỉ coi chúng là vật trang sức, “không có công dụng thực tế, không rõ để làm gì ...” . Đây là những chữ cổ có tuổi khảo cổ học một vạn năm, thuộc nền văn hoá đồ đá giữa Hòa Bình (xem thêm bài 7: Văn hoá Hoà Bình – Hoabinhian) và trong đó có chữ thứ 2 giống chữ Sĩ của Hán tự ngày nay, phát hiện này trong thời gian dài đã làm đau đầu nhiều nhà nghiên cứu, vì nó có trước Chữ Giáp cốt Ân - Thương (1392 - 1122 - Tr. CN) khoảng 6000 năm. Lúc đó cả tộc danh Hoa Hạ và chủng Trung Mông -gô lô-ít đều chưa có mặt (xem thêm bản đồ Migration patterns of early HumansM175 từ Genographic project).

. Sử cũ cho biết, sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị thi hành chính sách đồng hoá. Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp sang ta bắt đốt hết sách, nhà nào cất giữ thì bị giết hại. Cuộc tận thu trống đồng của Mã Viện năm 43, sau này cuộc cướp phá sách vở của nhà Minh đầu thế kỷ 15…, Với chính sách đó thì chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, tưởng rằng đã bị xoá sạch là điều dễ hiểu.

. Trong tập: Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ, do Viện Văn hoá in năm 1986, Giáo sư Lê Trọng Khánh đã dẫn chứng: Nhiều dân tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa đẩu thời Phục Hy- Thần Nông để ghi tiếng dân tộc mình. Như vậy, dân tộc Kinh - Lạc Việt lại không còn văn bản hay sao? Riêng ở Việt Nam, chữ khoa đẩu được dùng lâu hơn. Mãi đến đời Sĩ Nhiếp vẫn còn, tuy Sĩ Nhiếp cấm đoán nhưng nhân dân ta vẫn dùng.

. Nhiều nhà nghiên cứu, từ Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm... cho đến Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Ký, cả những nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Tiệp Khắc, Mỹ, Pháp, nhất là Trung Quốc: từ Lục Lưu, đến Hứa Thân, Trịnh Tiểu... đều khẳng định: Việt Nam xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ được phát hiện ngày một nhiều trên nhiều hiện vật khảo cổ, được khắc trên đá, trên xương thú, trên đồ đồng như vũ khí, trống đồng cổ và phân bố rộng khắp lưu vực có người Việt sinh sống.

 

Chữ Việt cổ trên thân trống đồng Lũng Cú

Chữ cổ trên bãi đá cổ Sapa

Một số văn bản có chữ Việt cổ tìm được tại Sơn La :

Gần đây Nhóm nghiên cứu Chữ Việt cổ và giáo dục thời Hùng Vương, do nhà văn Khánh Hoài- Đỗ Văn Xuyền lãnh đạo đã có những khám phá rất quan trọng. Một trong những kết quả nghiên cứu của Nhóm là phát hiện ra một bộ chữ Việt cổ được lưu giữ ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Các nhà khoa học cho rằng văn tự này có thể là một biến thể của chữ “Khoa đẩu” hay “Hoả tự” đã ghi trong cổ sử. Thứ chữ đã tồn tại trong nền văn hoá tiền Việt - Mường. Do không được sử dụng phổ biến, bộ chữ này bị đóng băng, không phát triển theo kịp những biến âm trong tiếng nói người Việt hiện đại. Đến thế kỷ 16 khi đạo thiên chúa truyền vào nước ta, một nhóm trí thức người Việt đã cùng các giáo sĩ phương tây La Tinh hoá bộ chữ này thành chữ Quốc ngữ mà ta đang dùng ngày nay.

Thầy Xuyền và một số chữ Việt cổ được phát hiện tại các khu vực khác nhau.

Một số khu vực phát hiện dấu tích chữ Khoa đẩu.

. Vào năm 1903 Tổng đốc Thanh Hóa lúc ấy là Vương Duy Trinh công bố việc tìm ra một văn bản viết bằng thứ chữ lạ, trông như những ngọn lửa vờn cháy mà ông gọi là chữ Hỏa tự. Dựa vào những chữ Hán ghi chú bên cạnh ông dịch được nội dung, thì ra đây là một bài thơ có tựa đề "Mời trầu" có nội dung ca ngợi tình yêu.

. Vương Duy Trinh cho rằng, đây chắc chắn là chữ của tổ tiên ta từ thời các vua Hùng nay vẫn còn truyền lại và lưu hành trong một bộ phận nhỏ xã hội. Theo nghiên cứu của Ông thì:"Thập châu là vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thứ chữ này".

. Cách đây hơn một thế kỷ, Phạm Thận Duật, một nhà văn hóa lớn của dân tộc, trong thời gian làm Tri châu ở Tây bắc (khoảng năm 1855) đã phát hiện nhiều bộ chữ mà Ông cho là chữ Thái thổ tự , trong đó có một bộ chữ cái có kèm ghi chú chữ Hán. Theo mô tả của Ông, thứ chữ này được viết theo chiều ngang, bộ chữ gồm 18 thể chữ cái theo vần bằng, 18 thể chữ cái theo vần trắc. Còn ở Châu Mai Sơn, Châu Minh Biên có bộ chữ gồm 17 thể chữ cái theo vần bằng, 15 thể chữ cái theo vần trắc. Ngoài ra còn 11 chữ và nét phụ ở 04 bên mà Ông gọi là "tứ bàng phụ họa, sử dụng 03 thể chữ cái đảo lên, lộn xuống, ghép lại với nhau thành từ, thì đều có thể thông với văn tự Trung châu" (tức là có thể chuyển ngữ cho chữ Hán).

. Theo nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền: Bộ chữ do Phạm Thận Duật mô tả là bộ chữ không có dấu, trong đó 17 chữ vần bằng là phụ âm, đi với thanh không. 16 thể chữ theo vần trắc là phụ âm đi với thanh huyền. 11 nét phụ (tứ bàng phụ họa) cho những từ vần bằng chính là nguyên âm. Sau nhiều năm khảo sát ở nhiều miền trong cả nước, ông sưu tầm được một khối lượng lớn tư liệu về chữ Việt cổ, và khu biệt được một bộ chữ gồm 47 chữ cái mà Ông tin chắc là chữ Việt cổ, vì bộ chữ này thỏa mãn được 03 tiêu chuẩn kiểm tra ký tự của một dân tộc, được các nhà khoa học đề ra, đó là:

. - Có ghi lại được đầy đủ tiếng nói của dân tộc đó không ?

. - Những đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc có thể hiện qua các đặc điểm của ký tự đó không ?

. - Có giải quyết được các "nghi án" về ngôn ngữ, ký tự của dân tộc đó trong quá khứ ? (Chứng minh bằng các cuộc kiểm tra thực tế ở các địa phương, bằng cách dịch lại các văn bản còn tồn nghi và đọc các văn bản cổ mới sưu tầm)

. Đây là bộ chữ ghi phát âm của tiếng nói (không phải chữ tượng hình nguyên thuỷ) có cấu tạo gần với hệ chữ La Tinh của phương Tây, nên rất dễ học. Tuy nhiên bộ chữ này có một nhược điểm là những chữ nguyên âm luôn thay đổi vị trí. Phải mất nhiều năm nghiên cứu ông mới tìm ra quy luật – Quy luật đặt vị trí nguyên âm theo đạo lý người Việt (ví dụ từ trời nguyên âm đặt phía trên, từ đất nguyên âm đặt phía dưới. Tương tự các từ cha, con nguyên âm đặt phía trước hoặc sau). Để thuộc bảng chữ cái và nắm được quy luật ghép vần , người ta có thể học sử dụng được bộ chữ này để đọc, viết trong khoảng thời gian 7-10 ngày. Nhóm nghiên cứu đang đang tập trung nghiên cứu để một ngày gần đây chứng minh giả thiết cho rằng, những nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La Tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ. Chính trong cuốn “Từ điển Việt Bồ La”, Alexandre de Rodes đã viết: “Đối với tôi, người dạy tài tình nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong vòng 3 tuần, anh ta đã hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc các từ”. Theo thầy Xuyền thì “cách đọc các từ” đó nhiều khả năng là thứ chữ Việt cổ !

Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi cả nước khởi nghĩa giành độc lập, mùa xuân năm 40, được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ .

. Một số bài thơ được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ :

(Doremon360 tổng hợp từ bài viết của 2 tác giả Đỗ Quang và Quang Hoà, bổ sung thêm tư liệu và hình ảnh)

_______________
Nguồn: Blog doremon360

 

Video Chương trình ĐỐI DIỆN 29/7/2026: Bảo vệ lịch sử trước tư tưởng sai lệch

    Lịch sử luôn có giá trị trường tồn, mọi nỗ lực nhào nặn hay bóp méo quá khứ có thể thu hút dư luận trong chốc lát, nhưng chắc chắn khôn...

Popular Posts